Quyền chọn (option) trong chứng khoán là hợp đồng cho người mua quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hoặc bán một lượng tài sản cơ sở ở mức giá định trước, vào hoặc trước một ngày định trước; người bán nhận một khoản phí và phải thực hiện nghĩa vụ nếu người mua dùng quyền. Có hai loại: quyền chọn mua (call) và quyền chọn bán (put). Luật Chứng khoán 2019 xếp hợp đồng quyền chọn vào chứng khoán phái sinh, nhưng tính đến 26/10/2026 thị trường Việt Nam chưa có quyền chọn niêm yết; sản phẩm gần nhất nhà đầu tư cá nhân mua được là chứng quyền có bảo đảm trên HOSE.

Quyền chọn theo luật Việt Nam

Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14, Điều 4 khoản 11, định nghĩa hợp đồng quyền chọn là loại chứng khoán phái sinh “xác nhận quyền của người mua và nghĩa vụ của người bán” để thực hiện một trong hai giao dịch:

  • Mua hoặc bán số lượng tài sản cơ sở nhất định theo giá thực hiện đã xác định, tại thời điểm trước hoặc vào ngày đã xác định trong tương lai (thanh toán bằng chuyển giao tài sản).
  • Thanh toán khoản chênh lệch giữa giá trị tài sản cơ sở lúc giao kết và lúc thực hiện (thanh toán bằng tiền).

Tài sản cơ sở là chứng khoán, chỉ số chứng khoán hoặc tài sản khác theo quy định của Chính phủ (khoản 10 cùng điều). Nghị định 158/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 306/2025/NĐ-CP), Điều 14 khoản 1, liệt kê hai dạng hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh: quyền chọn niêm yết, và quyền chọn giao dịch thỏa thuận nhưng vẫn “trên Sở giao dịch chứng khoán”. Khoản 2 điểm c cùng điều yêu cầu mỗi hợp đồng quyền chọn ghi rõ ba thông tin: loại quyền chọn (mua hay bán), kiểu quyền chọn (chỉ thực hiện tại ngày đáo hạn, hay được thực hiện trước hoặc tại ngày đáo hạn) và giá thực hiện.

Khung pháp lý đã có, sản phẩm thì chưa. Báo cáo thị trường phái sinh tháng 9/2026 của HNX (đăng 07/10/2026) chỉ nêu bốn sản phẩm: hợp đồng tương lai chỉ số VN30, VN100 và hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm, 10 năm (hai loại sau không có giao dịch trong tháng).

Quyền chọn mua và quyền chọn bán khác nhau thế nào?

Quyền chọn mua cho người giữ quyền mua tài sản ở giá thực hiện, có lợi khi giá tăng; quyền chọn bán cho quyền bán tài sản ở giá thực hiện, có lợi khi giá giảm. Mỗi hợp đồng luôn có hai bên với vị thế ngược nhau:

Vị thếTrả hay nhận phíQuyền, nghĩa vụLãi tối đaLỗ tối đa
Mua quyền chọn muaTrảQuyền mua ở giá thực hiệnKhông giới hạnPhí đã trả
Bán quyền chọn muaNhậnPhải bán nếu bị thực hiệnPhí đã nhậnKhông giới hạn
Mua quyền chọn bánTrảQuyền bán ở giá thực hiệnGiá thực hiện trừ phíPhí đã trả
Bán quyền chọn bánNhậnPhải mua nếu bị thực hiệnPhí đã nhậnGiá thực hiện trừ phí

Lãi, lỗ tính trên mỗi đơn vị tài sản cơ sở, chưa gồm phí giao dịch và thuế.

Các thuật ngữ đi kèm:

  • Giá thực hiện (strike price): mức giá mua hoặc bán khi thực hiện quyền.
  • Phí quyền chọn (premium): giá người mua trả cho người bán để có quyền. Đây là “giá” của quyền chọn khi giao dịch.
  • Kiểu châu Âu, kiểu Mỹ: kiểu châu Âu chỉ thực hiện tại ngày đáo hạn; kiểu Mỹ thực hiện được bất kỳ lúc nào đến ngày đáo hạn. Đây là hai “kiểu quyền chọn” mà Nghị định 158 yêu cầu ghi trong hợp đồng.
  • Có lãi, ngang giá, không có lãi (in the money, at the money, out of the money): với quyền chọn mua, giá tài sản cao hơn giá thực hiện là có lãi; với quyền chọn bán thì ngược lại.

Lãi lỗ quyền chọn tính thế nào?

Lãi lỗ của người mua quyền chọn mua khi đáo hạn = (giá tài sản − giá thực hiện) × số lượng − phí đã trả, nếu giá tài sản cao hơn giá thực hiện; nếu không, người mua bỏ quyền và mất đúng khoản phí. Với quyền chọn bán, đổi chiều phép trừ: (giá thực hiện − giá tài sản).

Ví dụ giả định: cổ phiếu công ty A đang ở 50.000 đồng. Bạn mua một quyền chọn mua 100 cổ phiếu A, giá thực hiện 52.000 đồng, phí 1.500 đồng mỗi cổ phiếu, tổng phí 150.000 đồng. Kết quả vào ngày đáo hạn:

Giá cổ phiếu A khi đáo hạn (đồng)Thực hiện quyền?Lãi, lỗ của người mua (đồng)
60.000Có+650.000
53.500Có0
53.000Có−50.000
48.000Không−150.000

Tự tính: (60.000 − 52.000) × 100 − 150.000 = 650.000. Điểm hòa vốn = giá thực hiện + phí = 53.500 đồng.

Ở mức 53.000 đồng, người mua vẫn thực hiện quyền vì thu về 100.000 đồng, bù được một phần phí. Người bán quyền chọn nhận 150.000 đồng ngay từ đầu; ở mức 60.000 đồng, người bán lỗ đúng 650.000 đồng mà người mua lãi.

Phí quyền chọn không cố định: nó phụ thuộc chủ yếu vào khoảng cách giữa giá tài sản và giá thực hiện, thời gian còn lại đến ngày đáo hạn và mức biến động của tài sản cơ sở. Càng gần ngày đáo hạn, phần giá trị thời gian càng mòn đi.

Quyền chọn khác gì chứng quyền?

Chứng quyền có bảo đảm giống một quyền chọn do CTCK phát hành và niêm yết như chứng khoán thường (ở Việt Nam hiện chỉ có chứng quyền mua), còn hợp đồng quyền chọn là chứng khoán phái sinh mà nhà đầu tư có thể đứng ở vị thế mua hoặc bán. Luật Chứng khoán 2019 tách hai loại ở hai khoản riêng (Điều 4 khoản 6 và khoản 11). Khác biệt chính:

Tiêu chíHợp đồng quyền chọnChứng quyền có bảo đảm
Loại chứng khoánPhái sinhChứng khoán có tài sản bảo đảm
Bên bánNhà đầu tư mở vị thế bánChỉ CTCK phát hành
Mua và bánCả quyền chọn mua, quyền chọn bánỞ Việt Nam chỉ có chứng quyền mua
Thực hiệnTại hoặc trước đáo hạn, tùy kiểuChỉ tại ngày đáo hạn, nhận tiền
Ở Việt NamChưa niêm yếtNiêm yết trên HOSE

Đặc điểm chứng quyền theo Thông tư 122/2025/TT-BTC, Điều 3. Cập nhật 26/10/2026.

Hệ quả với nhà đầu tư cá nhân: mua chứng quyền giống mua quyền chọn mua kiểu châu Âu, thanh toán bằng tiền. Công thức tiền nhận mỗi chứng quyền khi đáo hạn là (giá thanh toán − giá thực hiện) ÷ tỷ lệ chuyển đổi. Với giá thực hiện 52.000 đồng, tỷ lệ chuyển đổi 4:1 và giá thanh toán 60.000 đồng, mỗi chứng quyền nhận 2.000 đồng. Điều bạn không làm được là “bán quyền chọn” để thu phí như người bán trong bảng ở trên, vì chỉ CTCK được phát hành chứng quyền.

Chứng quyền đặt lệnh bằng tài khoản cổ phiếu, phí giao dịch theo biểu phí cổ phiếu của từng CTCK (ví dụ SSI 0,15% khi đặt online). Cách đọc mã, giá hòa vốn, các mốc đáo hạn và bảng phí nằm ở bài cách mua chứng quyền.

Dễ nhầm thứ ba là quyền mua cổ phần (Điều 4 khoản 7, thường gọi là quyền mua cổ phiếu): chứng khoán do công ty cổ phần phát hành cho cổ đông hiện hữu để mua cổ phần mới theo điều kiện đã định. Quyền mua do chính doanh nghiệp phát hành, gắn với một đợt tăng vốn, không phải hợp đồng giữa hai nhà đầu tư như quyền chọn.

Quyền chọn khác gì hợp đồng tương lai?

Quyền chọn cho người mua quyền và không bắt buộc thực hiện; hợp đồng tương lai là cam kết hai chiều, cả hai bên đều phải thực hiện khi đáo hạn. Luật dùng chữ “quyền của người mua” cho quyền chọn (Điều 4 khoản 11) và “cam kết giữa các bên” cho hợp đồng tương lai (khoản 12). So với hợp đồng tương lai VN30 đang giao dịch:

Tiêu chíMua quyền chọnHợp đồng tương lai VN30
Tiền bỏ ra khi mởPhí quyền chọn, trả đứtKý quỹ 17% giá trị hợp đồng với vị thế qua đêm (VSDC, từ 16/10/2026); trong ngày theo mức riêng của CTCK
Ví dụ ở 1.900 điểmChưa có sản phẩm để so1.900 × 100.000 × 17% = 32,3 triệu đồng mỗi hợp đồng giữ qua đêm
Lỗ tối đaBằng phí đã trảTheo biến động giá, có thể bị gọi ký quỹ bổ sung
Lãi lỗ tính khi nàoKhi bán lại hoặc khi đáo hạnThanh toán lãi lỗ hằng ngày

Cập nhật 26/10/2026.

Vì người mua quyền chọn biết trước khoản lỗ tối đa, quyền chọn thường được dùng để phòng hộ danh mục. Hợp đồng tương lai cũng phòng hộ được nhưng không có “trần lỗ” như vậy. Thông số, ký quỹ và cách tính lãi lỗ hợp đồng tương lai ở bài chứng khoán phái sinh là gì; ngưỡng cảnh báo, xử lý của từng CTCK ở bài ký quỹ phái sinh.

App “quyền chọn” và quyền chọn nhị phân

Vì Việt Nam chưa có quyền chọn niêm yết, các app hoặc trang web mời “giao dịch quyền chọn” không phải sản phẩm của thị trường phái sinh trong nước. Đó có thể là sàn nước ngoài không được cấp phép tại Việt Nam, hoặc sàn quyền chọn nhị phân. Nghị định 158 (Điều 14 khoản 1) chỉ liệt kê quyền chọn niêm yết và quyền chọn giao dịch thỏa thuận trên Sở giao dịch chứng khoán, nên một “quyền chọn chứng khoán” mời chào ngoài Sở không thuộc danh mục của thị trường chứng khoán phái sinh trong nước.

Quyền chọn nhị phân chỉ mượn tên. Theo cảnh báo của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) đăng trên VnEconomy ngày 19/08/2021, người chơi dự đoán giá tăng hay giảm, đúng thì có lợi nhuận “theo tỉ lệ sàn đưa ra”, sai thì “mất toàn bộ số tiền cho giao dịch”; chủ sàn “hoàn toàn có thể can thiệp vào giá, điều chỉnh thắng thua”, và nhiều sàn tự giới thiệu là sàn nước ngoài nhưng do người Việt Nam thiết lập, điều hành theo mô hình đa cấp. Ở châu Âu, ESMA đã cấm tiếp thị, phân phối và bán quyền chọn nhị phân cho nhà đầu tư nhỏ lẻ từ năm 2018 (thông cáo 27/03/2018).

Cách kiểm tra một nơi giao dịch phái sinh có thật hay không nằm ở bài chứng khoán phái sinh có lừa đảo không; về các sàn ngoại hối, CFD mời chào qua mạng, xem forex có hợp pháp tại Việt Nam không.