Room margin là phần hạn mức cho vay ký quỹ mà công ty chứng khoán (CTCK) còn được phép hoặc còn muốn giải ngân. Hạn mức này có hai lớp: bốn trần pháp lý theo Điều 9 Quy chế ban hành kèm Quyết định 87/QĐ-UBCK (tổng dư nợ, một khách, một mã, một tổ chức phát hành) và room nội bộ mà mỗi CTCK tự đặt theo từng mã. Vì vốn chủ, khách vay và chính sách mỗi nơi khác nhau, một mã có thể “hết room” ở CTCK này nhưng vẫn vay được ở CTCK khác.

Bài này chỉ bàn phần hạn mức còn lại. Tỷ lệ cho vay của từng mã nằm ở bài tỷ lệ margin, số dư nợ của từng CTCK ở bài dư nợ margin.

Room margin là gì?

Room margin là khoảng cách giữa số tiền CTCK đang cho vay ký quỹ và hạn mức tối đa của nó, tính ở một trong các cấp: toàn công ty, từng mã chứng khoán, từng khách hàng, hoặc theo số cổ phiếu của một tổ chức phát hành. “Hết room” nghĩa là đã chạm hạn mức ở một cấp nào đó, nên CTCK không cho vay thêm phần vượt, dù mã bạn muốn mua vẫn nằm trong danh mục ký quỹ và vẫn có tỷ lệ cho vay.

Chữ “room” không có trong quy chế. Quy chế dùng từ “hạn mức cho vay giao dịch ký quỹ” (tên Điều 9). Room cũng khác với tỷ lệ cho vay: tỷ lệ cho vay quyết định mỗi đồng tài sản được vay bao nhiêu, còn room quyết định CTCK còn bao nhiêu tiền để cho vay mã đó hoặc cho bạn.

Khi gặp chữ “room” trên bảng giá, đó thường là room khối ngoại, một khái niệm khác hẳn (xem mục cuối bài).

Bốn hạn mức theo Điều 9 Quyết định 87/QĐ-UBCK

Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ ban hành kèm Quyết định 87/QĐ-UBCK (hiệu lực từ 01/04/2017; khi kiểm tháng 10/2026 chúng tôi chưa thấy văn bản thay thế) ghi CTCK “phải tuân thủ các hạn mức cho vay giao dịch ký quỹ quy định tại Điều này”:

Cấp roomTrần theo Điều 9Tính trên
Toàn công ty (khoản 1)200%Vốn chủ sở hữu của CTCK
Một khách hàng (khoản 2)3%Vốn chủ sở hữu của CTCK
Một loại chứng khoán (khoản 3)10%Vốn chủ sở hữu của CTCK
Số chứng khoán cho vay của một tổ chức (khoản 4)5%Tổng số chứng khoán niêm yết của tổ chức đó

Vốn chủ dùng để tính là vốn chủ theo báo cáo tài chính kiểm toán hoặc soát xét gần nhất, không quá 06 tháng; vì sao phải thận trọng khi so tỷ lệ báo chí với trần 200% có trong bài dư nợ margin.

Ba trần đầu tính bằng tiền, nên CTCK vốn lớn có room lớn. Trần thứ tư tính bằng số cổ phiếu, không phụ thuộc vốn CTCK: với một công ty có 100 triệu cổ phiếu niêm yết, mỗi CTCK chỉ được cho vay ký quỹ trên tối đa 5 triệu cổ phiếu của công ty đó.

Room theo mã và theo khách quy ra tiền ở 7 CTCK

CTCKVốn chủ 30/09/2026 (tỷ đồng)10% cho một mã (tỷ đồng)3% cho một khách (tỷ đồng)
TCBS47.4064.740,61.422,2
SSI38.0573.805,71.141,7
VPBankS36.2823.628,21.088,5
VPS32.0743.207,4962,2
ACBS14.9041.490,4447,1
HSC14.5051.450,5435,2
VCBS9.363936,3280,9

Phép tính minh họa của chúng tôi, cập nhật 24/10/2026, trên vốn chủ sở hữu tại 30/09/2026 theo báo cáo tài chính quý 3/2026 (SSI bản riêng, ACBS hợp nhất; TCBS theo CafeF 19/10/2026). Bảy CTCK lấy từ nhóm đã có vốn chủ tại 30/09/2026 trong bài dư nợ margin, xếp từ vốn chủ lớn đến nhỏ, không phải xếp hạng chất lượng. Đây không phải hạn mức pháp lý chính xác, vì Điều 9 dùng vốn chủ theo báo cáo kiểm toán hoặc soát xét gần nhất. Bảng không cho biết mỗi CTCK đã dùng bao nhiêu room.

Bảng cho thấy chênh lệch quy mô: trần cho một mã ở TCBS gấp khoảng 5 lần ở VCBS. Một CTCK có vốn chủ 1.000 tỷ đồng thì trần cho một mã là 100 tỷ đồng, chia cho mọi khách cùng vay mã đó. Hạn mức CTCK công bố cho một khách thường thấp hơn nhiều so với trần 3%, ví dụ MBS đặt mặc định 15 tỷ đồng mỗi khách (chính sách margin hiệu lực 15/10/2026); số của các CTCK khác xem bài dư nợ margin.

Room nội bộ của từng CTCK theo mã

Ngoài trần pháp lý, CTCK tự đặt room cho từng mã, thường thấp hơn nhiều so với 10% vốn chủ hay 5% số cổ phiếu niêm yết. Đây là lớp room người vay hay chạm nhất, nhưng ít khi được công bố.

Một ví dụ hiếm thấy công khai là tờ trình số 12.2024/TT-QTRR ngày 19/12/2024 của Chứng khoán Kiến Thiết Việt Nam (CSI), phê duyệt danh sách chứng khoán cho vay margin. Tờ trình ghi danh mục có hiệu lực từ 20/12/2024, nhưng tiêu đề bảng đính kèm lại ghi “Áp dụng từ ngày 20/10/2024”; chúng tôi dùng ngày ghi trong tờ trình. Bảng đính kèm có riêng cột “Room phát vay (CP)” cạnh tỷ lệ cho vay, giá chặn và số lượng cổ phiếu niêm yết. Dòng đầu bảng là một cổ phiếu HOSE có 379.779.286 cổ phiếu niêm yết, tỷ lệ cho vay 50%, room 160.235 cổ phiếu, giá chặn 128.707 đồng. Trần 5% theo Điều 9 cho mã này là khoảng 18,99 triệu cổ phiếu (phép tính của chúng tôi), tức room nội bộ của CSI bằng chưa tới 1% mức trần. Ví dụ chỉ minh họa cách một CTCK đặt room, không phải đánh giá cổ phiếu.

Danh mục ký quỹ mà CTCK đăng trên website thường không có cột này. Trong các tệp danh mục của 23 CTCK mà chúng tôi lưu ngày 22/10/2026 cho trang dữ liệu margin, không tệp nào có cột room hay hạn mức theo mã; các tệp chỉ có mã, tỷ lệ cho vay (hoặc tỷ lệ ký quỹ), giá chặn và giá tính tài sản. Room còn lại theo mã phải xem trên app hoặc hỏi CTCK.

Vì sao một mã hết room ở CTCK này mà không ở CTCK khác?

Vì room tính riêng ở từng CTCK: vốn chủ khác nhau, số khách cùng vay một mã khác nhau, và mỗi nơi tự đặt room nội bộ. Chạm trần ở CTCK này không ảnh hưởng gì tới room của mã đó ở CTCK khác. Các nguyên nhân cụ thể:

  1. Quy mô vốn. Trần 10% cho một mã ở VCBS là khoảng 936 tỷ đồng, ở TCBS khoảng 4.741 tỷ (bảng trên). Cùng một lượng khách vay, CTCK nhỏ chạm trần sớm hơn.
  2. Khách tập trung vào một mã. Room theo mã dùng chung cho mọi khách của CTCK. Mã được nhiều khách ở một CTCK vay cùng lúc sẽ hết room trước ở CTCK đó. Một bài báo năm 2018 (Nhà Đầu Tư, 06/03/2018) ghi nhận một cổ phiếu vốn hóa lớn “hết hạn mức margin” tại một CTCK lớn và giải thích bằng trần 10% vốn chủ cho một mã.
  3. Room nội bộ. Bộ phận quản trị rủi ro của mỗi CTCK đặt room theo mã (như cột room của CSI ở trên) và sửa theo từng kỳ danh mục.
  4. Còn room nhưng hết nguồn. Room là hạn mức pháp lý, còn tiền cho vay là chuyện khác. Báo Pháp luật Việt Nam (05/02/2025) ghi nhận “một số CTCK còn rơi vào tình trạng còn room nhưng hết nguồn” vì vốn đã phân bổ sang kênh khác như trái phiếu, giấy tờ có giá.
  5. Hạn mức của chính bạn. Có khi mã còn room nhưng tài khoản của bạn đã dùng hết hạn mức (ví dụ 15 tỷ mặc định ở MBS), hoặc chạm trần 3% vốn chủ cho một khách.

Có trường hợp trông giống hết room nhưng là cấm theo quy chế: Điều 10 khoản 1 không cho CTCK cho vay ký quỹ cổ phiếu do chính CTCK phát hành hoặc cổ phiếu của công ty niêm yết sở hữu từ 50% vốn điều lệ CTCK trở lên. Điều 10 có thể là lý do một mã lớn vắng ở đúng một CTCK: trong danh mục mới nhất, lưu ngày 22/10/2026, TCBS không có cổ phiếu của công ty mẹ (TCB) trong danh mục, còn 20 CTCK khác có cho vay mã này; ACBS tương tự với ACB, công ty mẹ của ACBS; danh sách đối chiếu nằm ở bài tỷ lệ margin. Các CTCK không ghi lý do trong danh mục, nên đây chỉ là đối chiếu với Điều 10, không phải đánh giá cổ phiếu.

Mã cũng có thể không được cho vay vì Sở đưa vào danh sách không đủ điều kiện ký quỹ hoặc vì CTCK tự loại khỏi danh mục. Đó là chuyện danh mục, không phải room, xem bài cổ phiếu bị cắt margin.

Hết room margin thì làm gì?

Trước tiên hỏi CTCK đang chạm loại giới hạn nào (room của mã, hạn mức tài khoản, hay mã đã ra khỏi danh mục), vì mỗi loại có cách xử lý khác nhau. Danh mục công bố không cho biết room còn lại, nên câu trả lời đến từ app hoặc từ môi giới, tổng đài của CTCK.

  1. Nếu hết hạn mức tài khoản: đề nghị nâng hạn mức, trong khung CTCK công bố và trần 3% vốn chủ. Ở MBS, khách đã đăng ký chữ ký online trên MBS Mobile tự điều chỉnh hạn mức margin trên app; không thì làm hồ sơ với MBS.
  2. Nếu hết room của mã: room được giải phóng khi dư nợ của mã đó tại CTCK giảm, tức khi khách khác trả nợ hoặc bán, hoặc khi CTCK nâng room nội bộ. Không có lịch cố định, nên hỏi CTCK có danh sách chờ hay không.
  3. Dùng tiền mặt cho phần thiếu, hoặc giảm khối lượng mua. Room chỉ giới hạn phần tiền vay.
  4. Vay ở CTCK khác. Mỗi người được mở một tài khoản giao dịch tại mỗi CTCK và mở được ở nhiều CTCK (Điều 6 Thông tư 120/2020/TT-BTC). Trước khi mở, so tỷ lệ cho vay và giá chặn của đúng mã đó giữa các CTCK trên trang dữ liệu margin, rồi so lãi suất ở bài lãi suất margin. Thủ tục đăng ký tiểu khoản ký quỹ ở từng nơi có trong bài cách vay margin.

Cách app báo hết room khác nhau giữa các CTCK; nếu lệnh mua bằng margin bị từ chối, hỏi CTCK lý do cụ thể thuộc loại giới hạn nào.

Vay ở hai nơi nghĩa là hai tài khoản ký quỹ tách biệt: mỗi nơi tính tỷ lệ ký quỹ, gọi bổ sung và bán giải chấp riêng, tài sản ở CTCK này không bù cho khoản vay ở CTCK kia.

Room margin khác room khối ngoại thế nào?

Room khối ngoại là số cổ phiếu nhà đầu tư nước ngoài còn được mua thêm tại một công ty, không liên quan gì tới việc vay margin. Khi dữ liệu bảng giá ghi “room” cạnh giao dịch của khối ngoại, đó là room nước ngoài.

Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa của công ty đại chúng được xác định theo Điều 139 Nghị định 155/2020/NĐ-CP: theo điều ước quốc tế, theo pháp luật chuyên ngành, hoặc theo danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; ngoài các trường hợp đó thì không hạn chế. Bản gốc còn cho công ty đại chúng tự đặt tỷ lệ thấp hơn mức trên, nếu đại hội đồng cổ đông thông qua và ghi vào điều lệ. Nghị định 245/2025/NĐ-CP (ngày 11/09/2025) bãi bỏ quy định này (Luật sư Việt Nam, 22/09/2025). Room khối ngoại hết thì nhà đầu tư nước ngoài không mua thêm được; nhà đầu tư trong nước vẫn mua và vẫn vay margin bình thường nếu mã còn trong danh mục và còn room ở CTCK.

Room margin ngược lại là hạn mức của CTCK, tính theo vốn chủ của CTCK, và quy chế không cho nhà đầu tư nước ngoài vay ký quỹ (Điều 10 khoản 1 điểm đ).